Giấc mơ tiếp theo – The Silk Road



Do đâu mà con đường tơ lụa có sức hấp dẫn như vậy? Những ai đã đi thăm con đường xưa nổi tiếng trong và ngoài nước Trung Quốc đều tự cảm nhận sức hấp dẫn ấy.
Đọc bao nhiêu sách, truyện, ngôn tình, xem phim thì Con đường tơ lụa trong tâm trí tôi rất thần thánh, kì vĩ, không thể nói hết được sự tài giỏi của người xưa như thế nào khi khai thông ra con đường vận chuyển hàng hóa giao thương buôn bán dài, khắc nghiệt và cũng kì diệu tới mức như thế. Đọc Đại mạc hoang nhan của Thương Nguyệt, tôi hình ra một Đôn Hoàng với gió cát mịt mù nhưng cũng không kém phần xa hoa, sầm uất khi đó là một trong những điểm dừng chân lớn trên con đường tơ lụa. Rồi Kumarajiva với hình ảnh thiên phật động Kizil tại Khâu Từ  đầy mê hoặc, linh thiêng và hùng vĩ ở những thế kỉ trước.

Năm 2013, chuyến đi Silk Road gần 1 tháng bị hủy vào phút chót vì một việc bất khả kháng, toàn bộ vé máy bay, visa, công sức đổ ra biển hết, khóc nguyên 1 dòng sông. Cho tới nay, giấc mơ này vẫn để đó chưa thực hiện được vì để đi được cung này ở phần Trung Quốc thôi cũng là khó vì phải có người biết tiếng, phải cùng ham mê về silk road, về những địa danh trên con đường khét tiếng này mới đi được. 

Giấc mơ này, tôi mơ đi từ Tây An tới Trương Dịch -> Đôn Hoàng, tham ốc đảo giữa lòng sa mạc, thăm Ngọc Môn Quan cửa ải cuối cùng giữa Trung Nguyên và Tây Vực (Tân Cương) lừng lẫy trong lịch sử mặc dù bây giờ nó chỉ còn là một phế tích hoang vắng. Rồi từ Đông Hoàng đi tới Turpan với Hỏa diệm sơn trong Tây Du Kí, với vương quốc Cao Xương, thành cổ Giao Hà một thời Đường Huyền Trang đã dừng bước tại đây. Rồi sẽ tới Khâu Từ với Kizil, với Rajiva – Cưu Ma La Thập- người đã có công rất lớn truyền bá đạo phật vào  Trung NGuyên và dịch một số lượng khổng lồ kinh phật tiếng Phạn sang tiếng Hán. Tiếp theo sẽ đi tới Kashgar – thành phố quan trọng của tuyến đường Silk Road rồi từ đó đi tới Tashkurgan, nếu xin được permit sẽ đi tới đèo Khunjerab Pass, biên giới giữa Trung Quốc và Pakistan. Thời gian ít nên chỉ đi được một đoạn ngắn như thế trên đất TQ, còn lại những nước Trung Á… không biết bao giờ mới đi được đây. The Karakoram Highway là quốc lộ cao nhất thế giới nằm ở độ cao 4.693m, qua Himalaya, Karakoram và dãy núi Pamir. Năm 1986, đường cao tốc Karakoram chính thức mở cửa cho khách du lịch và nối liền Trung Quốc với các nước Trung Á. Con đường này dài khoảng 700 km và kết nối khu vực Tân Cương của Trung Quốc với Islamabad, thủ đô của Pakistan.

Chỉ nói đến phong cảnh thiên nhiên thôi thì nào núi non, sông ngòi sa mạc, thảo nguyên – chúng luôn luôn biến hóa. Cái bao la khoáng đạt cố nhiên là nét đặc sắc của chúng, nhưng còn núi cao, vực sâu hoặc trong lòng sa mạc thì cảnh sắc kỳ ảo, rực rỡ, tráng lệ khiến người ta không ngớt thán phục. Trên đường đi thường có thể không biết tên địa phương, nhưng ta có cảm tưởng hầu như được xem những bức tranh sơn dầu cổ điển vậy. Cảnh đẹp do chính ta phát hiện và tự nhận ra sự hứng thú đặc biệt của chính mình.

Trên con đường tơ lụa, rải rác đây đó là những tòa cổ thành, những hang thạch động, chúng lóe lên ánh sáng ngọc ngà thần bí của một thời. Cho dù đã có nhiều nhà bác học trong và ngoài nước nghiên cứu, nhưng cũng vẫn chưa làm lộ ra hết bức màn bí mật trong bản thân chúng. Người có lòng cứ việc tìm đến từng chút, từng nơi, còn đối với người đương thời hoặc đối với hậu thế, đó cũng là công việc mang rất nhiều ý nghĩa.

Ngay như lộ tuyến của con đường tơ lụa đến nay vẫn chưa hoàn toàn được xác định. Phương hường tổng thể của nó thì đã rõ, song truy tầm theo dấu chân của Trương Khiên, Hoắc Khứ Bệnh, Cưu Ma La Thập, Huyền Trang thì cũng cần phải mất nhiều công sức. Theo dấu chân thám hiểm của cổ nhân, tôi cho rằng ngày xưa việc khai thông giao lưu văn hóa giữa Trung Hoa và phương Tây của những người này là những cống hiến đáng khâm phục…

Lịch sử:

Trước khi chưa có đường biển giao thông giữa phương Đông và phương Tây, thì con đường tơ lụa từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến thế kỷ thứ VIII, thứ IX Công nguyên là sự liên kết giữa Trung Quốc và Trung Á, Tây Á và thẳng đến một phần đại lục thuộc bờ đông Địa Trung Hải.

Lộ tuyến của con đường tơ lụa đi theo những hướng nào? Trên bản đồ ngày nay,  người ta lấy thành phố Tây An thuộc tỉnh Thiểm Tây làm xuất phát điểm, theo hướng tây đi xuyên một dải đất dài và hẹp thuộc tỉnh Cam Túc qua hang động Mạc Cao nổi tiếng ở Đôn Hoàng, ra khỏi Ngọc Môn quan và Dương quan đến khu tự trị Tân Cương thuộc tộc người Uygur; sau đó men theo tuyến bắc và tuyến nam ven sa mạc Taklamacan để phân thành hai đường rồi hội họp ở cao nguyên Pamia, vượt ra khỏi biên giới Trung Quốc sẽ vào khu vực Trung Á, Tây Á và thẳng đến bờ đông Địa Trung Hải. Sau khi ra khỏi Ngọc Môn quan, lại còn thêm một con đường ở phía bắc, men theo Ha Mật, Jimuzar (Cát mộc tát nhỉ) đi về hướng tây, qua sông Y Lê, sông Sở Hà rồi theo hướng tây vượt qua Hàm Hải, Lý Hải thì đến thành lũy Constantinople bên bờ Hắc Hải.

Tôi thường nghĩ làm sao người ta có thể khai phá con đường tơ lụa để trở thành con đường huyết mạch thông thương Đông Tây vào thời cổ đại xa xưa ấy? Lúc bấy giờ lại chưa có kiến thiết công lộ; đường chẳng qua là đo con người đi lại lâu ngày mà thành. Con đường tơ lụa dài dằng dặc kia mà phần lớn lộ trình phải qua sa mạc, thảo nguyên, núi cao hiểm trở hoàn toàn do người dắt lạc đà hay cười ngựa đi lại để tạo nên. Không biết ban nhiêu người Hán, người thiểu số Tây Vực và người Trung Á, Tây Á vào thời cổ đại đã thám hiểm từng đoạn đường, sau đó liên kết chúng lại với nhau và cuối cùng tạo thành một con đường vĩ đại giao thông huyết mạc xuyên ngang Đông Tây dài ước chừng hơn 7000 cây số. Họ rất đáng được tôn xưng là những anh hùng vô danh. Tiếc thay, tên tuổi của họ không hề thấy trong sử sách. Đối với tôi, mỗi lần đến viện bảo tàng nhìn những tượng người dắt lạc đà hay dắt ngựa, tự nhiên lòng tôi lại dấy lên niềm sùng kính vô biên.

Nói về tác dụng của con đường tơ lụa thời cổ đại thông thương với Tây Vực do Trương Khiên đời Tây Hán khai phá, các sử gia trong và ngoài nước đánh giá rất cao, họ cho rằng chính Trương Khiên đã bước đầu xúc tiến việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Đông và Tây rất có ích cho sự tiến bộ của loài người.

Từ đời Thương, Chu trở đi, dân du mục Hung Nô ở phương Bắc cùng với người Hán định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà lấy nông nghiệp làm chính đã trở nên mâu thuẫn kịch liệt. Đến đời nhà Hán, tập đoàn quân sự chủ nô của Hung Nô nhiều lần sang quấy nhiễu Trung Nguyên, họ bắt người, cướp gia súc, phá hoại hoa màu.

Hán Vũ Đế nghe nói tại dãy núi Kỳ Liên gần Đôn Hoàng có bộ tộc Đại Nguyệt thị cư trú, bị người Hung Nô đánh đuổi đến phía tây núi Thông Lĩnh thuộc lưu vực sông A Mẫu, và trở thành cừu địch, nhà vua quyết định cử sứ giả đến đó và ước hẹn với người Đại Nguyệt thị giáp kích Hung Nô. Trương Khiên đứng lên ứng chiến. Năm 138 trước CN, ông suất lĩnh hơn 100 người ra đi. Giữa đường ông bị người Hung Nô bắt giam đến hơn 10 năm. Ông cưới vợ sinh con, nhưng quyết tâm hoàn thành sứ mạng không đổi. Về sau, ông đào thoát, giong ruổi về phía tây để  đến Đại Nguyệt thị. Nhưng bấy giờ, người Đại Nguyệt thị đã định cư ở lưu vực sông A Mẫu, thay đổi cuộc sống du mục bằng sản xuất nông nghiệp, không muốn xuống phía đông nữa. Trương Khiên ở lại Đại Nguyệt thị hơn một năm thì trở Về Trung Nguyên, nhưng giữa đường lại bị người Hung Nô bắt giam hơn một năm nữa. Sau đó, ông lại trốn thoát, mãi đến năm 126 mới về đến Trường An (nay là Tây An.).

Lần thứ nhất Trương Khiên đi sứ Tây Vực trước sau hơn 30 năm, khi đi suất lĩnh hơn 100 người, khi về chỉ còn được hai người. Cuộc thám hiểm lần này thật xui xẻo. Tuy không hoàn thành sứ mệnh như đã định, song ông đã gặt hái nhiều hiểu biết về lịch sử, địa lý, kinh tế của các nước ở Tây Vức, và phần nào nắm được tình hình các nước khác như Ba Tư, Điền Chi (Ả Rập), Lê Hiên (Đông La Mã).

Lần thứ hai, vào năm 119 trước CN, Trương Khiên suất lĩnh hơn 300 người theo hướng tây xuất phát. Đội thám hiểm này mỗi người chuẩn bị sẵn hai con ngựa, một vạn con bò và dê, rồi phải mang theo một số lớn vật phẩm, vải vóc, tiền bạc đến Tây Vực liên hệ.

Hai lần đi sứ Tây Vực, Trương Khiên đều theo lộ trình đầy gian nan hiểm trở của đoạn đường phía đông con đường tơ lụa. Từ đó, khoảng đường dài dằng dặc giữa lưu vực sông Hoàng Hà và khu vữc Địa Trung Hải đã xuyên suốt thành một con đường lớn vào thời cổ đại. Về sau, các vua nhà Hán không ngừng phái sứ giả đi Tây Vực. Các nước Iran, Irak, Ấn Độ, Pakistan … đều có dấu chân của các sứ giả nhà Hán, lâu thì 8, 9 năm; mau thì 3,5 mới triệu hồi.  Sứ giả nhà Hán Vũ Đế đến Ba Tư, quốc vương nước này phái hai vạn kỵ binh đi nghênh đón vào đến kinh đô. Dọc đường dân chúng đổ ra nhìn xem rất vui vẻ, náo nhiệt. Trong khi đó, sứ giả, lái buôn của các dân tộc Tây Vực và các nước khác cũng ùn ùn kếo đến. Trên con đường tơ lụa hiện ra cảnh phồn thịnh chưa hề thấy xưa nay.

Năm 60 trước CN, triều đình phong kiến nhà Hán bắt đầu thay thế sự thống trị của chế độ chủ nô Hung Nô ở Tây Vực, chọn Ô Lũy (nay là huyện Luân Đài, tỉnh Tân Cương) làm trung tâm thiết lập Tây Vực đô hộ phủ đại diện cho vương triều hành xử chủ quyền quốc gia từ hồ Balkash đến phía đông cao nguyên Pamia. Từ đó, sự thông thương của con đường tơ luạ được bảo đảm an toàn. Từ đời Tây Hán đến Tùy Đường, con đường này dù nhiều phen bị trắc trở, song xét về cả giai đoạn lịch sử ấy thì nó là cầu nối huyết mạch có tác dụng thông thương Đông Tây về văn hóa và kinh tế

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s